Chất béo nào tốt cho bữa ăn của bạn?

“Có bao nhiêu cô bác anh chị thật sự CHƯA BIẾT lựa chọn chất béo hay nói cách khác là lựa chọn DẦU – MỠ – TỐT cho bữa ăn của mình ?” Với câu hỏi này, chỉ trong vòng 4 tiếng đồng hồ sau khi tôi đăng tus trên facebook, có ít nhất 10 cô bác chị em trả lời CHƯA BIẾT.

Vậy thì hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau học cách chọn chất béo – thứ mà ngày ngày vẫn đang dùng đều mỗi ngày cho việc chiên, xào, nấu nhưng dường như mỗi người chỉ cần ra siêu thị và chọn lấy một món quen thuộc trên kệ thay vì phải đọc thành phần cũng như dành chút thời gian để đặt câu hỏi vì sao mua?

Bánh rán

Chất béo trong ăn uống

Chất béo là một phần quan trọng của chế độ ăn uống – cung cấp calori mà sau đó biến đổi thành năng lượng và góp phần trong việc chuyển hóa của các vitamin hòa tan chất béo A,D,E và K. Chất béo là thức ăn nhiều calori nhất, hơn cả tinh bột hydrat cácbon hay protein. Chất béo cũng đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng, phát triển cơ thể và duy trì sức khỏe tốt.

Chúng ta sẽ tìm hiểu về từng loại chất béo một có bao gồm cả cảnh báo về mối nguy hại khi lựa chọn sai chất béo trong bữa ăn.

1. Chất béo bão hòa (chất béo no – Saturated Fat)

Chất béo bão hòa thường có trong thịt đỏ (thịt bò, thịt lợn, thịt cừu); sữa và các sản phẩm làm từ sữa còn nguyên chất béo như sữa béo, phô mai và bơ; mỡ heo; mỡ pha vào bánh cho xốp giòn (shortening); dầu cọ (palm), dầu hạt cọ (palm kernel) và dầu dừa; và một số các thực phẩm chế biến như thức ăn vặt đóng gói và các loại bánh kẹo ngọt (sweets).

Chất béo bão hòa được khuyên cần hạn chế trong bữa ăn. Bởi, palmitat, loai chất béo bão hòa hầu hết tìm thấy trong thịt, mỡ động vật, trứng, sữa, gây ra hiện tượng kháng insulin.

Chất béo bão hòa có thể phá hoại tế bào cơ và dẫn đến tích tụ nhiều sản phẩm của quá trình phân hủy chất độc hơn, và các gốc tự do, có thể gây viêm và thậm chí gây rối loạn chức năng ty thể, tức là can thiệp vào các nhà máy sản xuất năng lượng tý hon bên trong các tế bào của chúng ta.

Hiện tượng này gọi là ngộ độc lipid. Nếu tiến hành sinh thiết cơ thì sẽ thấy chất béo bão hòa tích tụ trong màng tế bào cơ gây ra tình trạng kháng insulin.

Chất béo bão hòa còn độc hại đối với tế bào tuyến tụy sản sinh insulin. Càng có nhiều chất béo bão hòa trong máu, nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 càng cao.

Tuy nhiên, có một loại chất béo bão hòa vẫn được khuyên dùng chính là dầu dừa. Lý do nào mà cùng là chất béo bão hòa nhưng ăn dầu dừa lại có lợi cho sức khỏe?

Nói về dầu dừa từ trước nay vẫn tồn tại hai quan điểm, một bên cho rằng dầu dừa chứa nhiều chất béo bão hòa nên cũng cần hạn chế. Thế nhưng, các nhà khoa học ủng hộ việc tiêu thụ dầu dừa giải thích rằng, chất béo bão hòa có trong dầu dừa hoàn toàn khác so với chất béo bão hòa có trong mỡ động vật.

Chất béo bão hòa chia làm 3 loại dựa vào độ dài của các phân tử khác nhau: ngắn, trung bình và dài. Loại chất béo bão hòa có phân tử trung bình có tác dụng tốt với sức khỏe của con người. Các axit béo chuỗi trung bình như axit lauric trong dầu dừa được hấp thu và chuyển hóa khác với các axit béo chuỗi dài có trong mỡ động vật.

Nếu chất béo động vật bao gồm các axit béo chuỗi dài, có nghĩa là nó được tạo thành từ 14-24 nguyên tử cacbon thì dầu dừa chứa các axit béo chuỗi trung bình, có từ 8-12 nguyên tử cacbon.

Các axit béo chuỗi trung bình trong dầu dừa được chia nhỏ và được sử dụng để sản xuất năng lượng và hiếm khi kết thúc như chất béo trong cơ thể hoặc làm chất lắng đọng trong các động mạch. Chúng tạo ra năng lượng, không béo. Các axit béo chuỗi trung bình không có tác động tiêu cực đến cholesterol trong máu và giúp bảo vệ chống lại bệnh tim.

Và quan điểm của tôi tại thời điểm này, tôi cũng ủng hộ việc tiêu thụ dầu dừa như các nhà khoa học bảo vệ dầu dừa, bởi hiện tại cũng khó tìm được loại dầu thực vật ép lạnh nguyên chất nào về tổng thể phù hợp và an toàn hơn dầu dừa khi chiên rán.

Ngoài ra, nếu các bạn để ý, thì kể cả các nhà khoa học cho rằng chất béo bão hòa trong dầu dừa không có lợi thì việc tiêu thụ một lượng vừa phải cũng không phải là điều đáng ngại, thậm chí, tiêu thụ một lượng dầu dừa vừa đủ lại có lợi cho sức khỏe của chúng ta. Dẫu sao, so với mỡ động vật, thì dầu dừa – một sản phẩm của thực vật vẫn là lựa chọn tốt hơn.

→ Như vậy, chúng ta nên hạn chế chất béo bão hòa – loại chất béo chủ yếu đến từ thức ăn động vật, như kể bên trên thường thấy trong mỡ động vật, thịt đỏ, trứng, sữa… Nhưng chúng ta vẫn có thể sử dụng dầu dừa và hướng dẫn chi tiết về dầu dừa sẽ có ở đoạn sau trong bài này, chủ yếu để phục vụ món chiên rán nhiệt độ cao.

2. Chất béo không bão hòa (chất béo không no)

Có 2 loại chất béo không bão hòa: chất béo dạng đơn thể (monounsaturated) và chất béo dạng đa thể (polyunsaturated). Chất béo không bão hòa đơn có 1 liên kết đôi carbon, và có ít hydro hơn so với chất béo bão hòa.

Oleate, chất béo không bão hòa đơn có trong hầu hết các loại hạt, dầu oliu, quả bơ có thể bảo vệ cơ thể chống các tác động có hại của chất béo bão hòa như kể trên. Chất béo không bão hòa đơn cũng có khả năng được cơ thể giải độc nhiều hơn hoặc được tích trữ an toàn hơn.

Omega-3 và omega-6 là các chất béo không bão hòa dạng đa thể được xem là thiết yếu, và chúng ta cần có chúng trong chế độ ăn của mình. Hầu hết mọi người có được đủ chất béo omega-6 vì có nhiều nguồn thực phẩm khác nhau thường hay được ăn. Tuy nhiên, nhiều người không có đủ chất béo omega-3 vì có ít nguồn thực phẩm để lựa chọn hơn.

Các nguồn chất béo không bão hòa dạng đơn thể bao gồm: đậu phộng; đậu hạt; trái bơ; ô-liu, canola, đậu phụng, dầu hạt hoa hướng dương và hạt cây rum (safflower); và các loại bơ
thực vật không hydro hóa (non-hydrogenated margarine).

Các nguồn chất béo omega-3 không bão hòa dạng đa thể bao gồm: hạt lanh (flax), hạt chia và hạt cây gai dầu (hemp); hạt hồ đào; và cá có dầu chẳng hạn như cá trích (herring), cá hồi,
cá thu, và cá hương (trout).

Các nguồn chất béo omega-6 không bão hòa dạng đa thể bao gồm: hầu hết dầu thực vật (ví dụ đậu nành, hat hoa hướng dương, hạt hoa cây rum); các loại hạt; hột; lúa hạt; và các loại bơ thực vật không hydro hóa (loại bơ mềm).

→ Những điều trình bày về chất béo không bão hòa cho thấy, chúng ta nên đưa loại chất béo này vào bữa ăn hàng ngày, bao gồm cả không bão hòa đơn và không bão hòa đa.

3. Chất béo trans (chất béo chuyển hóa)

Có 2 nguồn trans fat: Trans fat hình thành một cách tự nhiên: Loại trans fat này được tạo ra trong ruột của một số động vật ăn cỏ. Đó là lý do tại sao có một lượng nhỏ trans fat được tìm thấy trong các sản phẩm động vật như sữa, sản phẩm từ sữa và thịt.

Trans fat hình thành trong quá trình chế biến thực phẩm hay còn gọi là trans fat công nghiệp: Loại trans fat này được tạo ra khi hydro được thêm vào dầu thực vật (quá trình hydro hóa) để chuyển thành chất béo rắn.

Dầu ăn bị hydro hóa một phần được sử dụng bởi nhiều nhà sản xuất thực phẩm để cải thiện cấu trúc, tăng thời gian bảo quản và tạo hương vị thơm ngon cho thực phẩm. Loai chất béo này cực kỳ có hại cho sức khỏe.

Vì thế, các bạn hãy tránh xa dầu thực vật bị hydro hóa – có rất nhiều trên kệ cửa hàng thực phẩm, siêu thị, được nhiều chị em nội trợ lựa chọn vì được bày bán quá phổ biến và những điểm tiện lợi nó mang lại!

Ăn thường xuyên dù chỉ một ít chất béo trans công nghiệp thôi cũng có thể làm tăng rủi ro bị bệnh tim và đột quỵ.

Một nghiên cứu mới cho biết: Bằng chứng các vấn đề về trí nhớ ở con người được cho là do trans fat. Một giáo sư y khoa tại Đại học California, San Diego cho biết: Trong khi trans fat làm tăng tuổi thọ của thực phẩm, nhưng chúng lại làm giảm tuổi thọ của con người. Từ quan điểm sức khỏe, sự tiêu thụ trans fat có liên quan đến việc tăng cân nhanh hơn, hung hăng hơn và mắc bệnh tim cao hơn.

Vì tác hại xấu của chất béo trans mà FDA – Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ – đã hạn cho các công ty thực phẩm của Mỹ đến ngày 18 tháng 6 năm 2018 phải loại bỏ các loại dầu hydro hóa ra khỏi mọi sản phẩm. Còn ở Việt Nam chúng ta thì sao, khi mà chất béo trans còn chưa được kiểm soát thì chị em cần phải tự mình loại bỏ bằng cách chọn lọc thực phẩm kĩ hơn khi mua sắm.

Ngoài dầu ăn bị hydro hóa, trans fat cũng có thể được tìm thấy trong rất nhiều loại thực phẩm mà mua chúng thậm chí dễ hơn mua một mớ rau sạch như:

Bánh cracker, cookies, bánh ngọt, bánh nướng và các thực phẩm nướng khác
Snack (bim bim)
Pizza
Thức ăn nhanh, mì ăn liền
Shortening và margarin
Các lớp phủ kem trên bánh ngọt

→ Tóm lại, cần loại bỏ chất béo chuyển hóa – chất béo công nghiệp ra khỏi thực đơn của bạn vì mối nguy hiểm nhìn thấy ngay được bằng cách không sử dụng dầu ăn bị hydro hóa, không ăn thức ăn nhanh, bánh kẹo công nghiệp như kể trên…

Loại dầu mỡ nào sẽ là lựa chọn đúng của bạn?

Mục này, tôi sẽ gợi ý cho bạn về loại chất béo nên dùng nhất để phục vụ ăn uống (trong giới hạn hiểu biết cũng như trải nghiệm của tôi lúc này).

1. Loại chuyên dùnng để chiên rán + xào nấu (Dầu Dừa)

Trước khi nói đến loại dầu mỡ dùng chiên rán, chúng ta cần hiểu thuật ngữ điểm khói. Điểm khói của dầu ăn dùng để chỉ nhiệt độ (dưới điều kiện quy định) đủ làm bay hơi các hợp chất như nước, các axit béo tự do, và các sản phẩm phân hủy ngắn chuỗi của quá trình oxy hóa bốc lên từ dầu ở dạng làn khói xanh nhạt có thể thấy rõ.

Tại nhiệt độ điểm khói, dầu bị phân hủy, bị oxy hóa và các hợp chất độc có liên quan có thể được hình thành như aldehyde và lipid peroxide. Aldehyde là một chất độc gây ung thư, bệnh tim mạch hay mất trí nhớ, dị dạng thai nhi, viêm, nguy cơ loét và tăng huyết áp khi ăn hay hít phải dù với lượng ít.

Khi chiên rán thức ăn cần tới nhiệt độ cao và kéo dài, nên điểm khói là cần thiết khi bạn lựa chọn dầu ăn để hạn chế nguy cơ từ thực phẩm bị gia nhiệt mạnh. Khi chiên rán, chúng ta chọn loại dầu mỡ có điểm khói cao để hạn chế chất độc sản sinh gây nguy hại cho sức khỏe.

Chúng ta chọn dầu dừa để chiên rán, nấu những món cần nhiệt độ cao bởi vì, khi bị đun nóng lâu, lượng chất độc sản sinh trong quá trình gia nhiệt là thấp nhất trong các loại dầu, nếu được đun nấu ở cùng nhiệt độ và thời gian.

Nguyên tắc là, dầu càng có nhiều chất béo chưa bão hòa thì càng không nên dùng để chiên xào, vì sẽ sinh nhiều chất gây ung thư. Dầu dừa thì ngược lại, chủ yếu là chất béo bão hòa, rất bền với nhiệt độ. Thêm vào đó, dầu dừa dễ bảo quản khi có thể để tới nhiều tháng thậm chí vài năm mà không hỏng hóc.

Vì thế, dầu dừa tuy có điểm khói không quá cao nhưng vẫn an toàn hơn các loại dầu khác khi bị gia nhiệt. Điểm khói của dầu dừa nguyên chất ép lạnh khoảng 177 độ C.

→ Kết luận là khi chiên rán nhiệt độ cao, bạn chọn dầu dừa. Nếu không có hoặc không thích mùi dầu dừa, có thể chọn mỡ heo chăn nuôi tự nhiên. So với dầu dừa, mỡ động vật không tốt hơn, ngoài ra chưa nói tới mặt có hại của mỡ động vật nhưng nếu buộc phải dùng để rán thì mỡ vẫn tốt hơn những loại dầu ăn bị hydro hóa cực kỳ có hại.

Dầu dừa ngoài việc chiên rán thì cũng thích hợp để bạn xào nấu các món ăn đa dạng khác nhau để bổ sung dưỡng chất. Và dầu dừa không phù hợp để trộn salad vì dễ bị đông đặc.

Dầu dừa tôi nhắc tới ở đây phải là loại ép lạnh nguyên chất để giữ được đa dạng vitamin và chất chống oxy hóa, cũng như tất cả các loại dầu ăn, bạn đều chọn loại nguyên chất ép lạnh. Dầu dừa có vô vàn lợi ích đáng để chúng ta sử dụng, lại là vật phẩm mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước nhiệt đới Việt Nam chúng ta.

Hàm lượng chất béo trong dầu dừa:

Chất béo no: 92%.

Chất béo không no đơn: 6%.

Chất béo không no đa: 1,6%.

Dầu dừa chứa nhiều chất có lợi cho sức khỏe, trong đó điển hình nhất là acid lauric (chất tồn tại trong sữa mẹ giúp trẻ sơ sinh tăng cường hệ thống miễn dịch), giúp kháng khuẩn, kháng virus, tiêu diệt nấm.

Tuy chứa hàm lượng chất béo chưa bão hòa cao, nhưng 90% số chất béo đó đều tốt cho sức khỏe. Dầu dừa chứa chất béo bão hòa với chuỗi phân tử trung bình, được tiêu hóa dễ dàng hơn, không gây tình trạng mỡ thừa. Dầu dừa giúp tiêu hao năng lượng nhanh hơn vì thế ăn dầu dừa giúp kiểm soát cân nặng tốt hơn.

Lượng ăn: 1-2 muỗng canh mỗi ngày được khuyên là tốt cho sức khỏe. Dầu dừa ở dạng lỏng khi nhiệt khoảng 25 độ C. Vì thế, bạn không cần giữ dầu trong tủ lạnh để dầu dễ sử dụng hơn.

2. Loại dùng ăn trực tiếp + cũng có thể xào nấu được (Dầu Oliu)

Loại phù hợp chính là dầu OLIU. Hàm lượng chất béo trong dầu ô liu:

Chất béo no: 14%.

Chất béo không no đơn nguyên: 76%.

Chất béo không no đa nguyên: 10%

Điểm khói dầu oliu nguyên chất ép lạnh khoảng 160-180 độ C.

Dầu oliu đặc biệt giàu vitamin và chất chống oxy hóa. Chất chống oxy hóa polyphenol ngăn ngừa sự phát triển của cholesterol LDL, ngăn chặn nguy cơ xơ vữa động mạch. Các chất chống oxy hóa có trong dầu oliu có tác dụng ngăn chặn các gốc tự do, phòng chống tình trạng viêm nhiễm, chống ung thư.

Căn cứ vào bảng phân bố chất béo và thành phần dưỡng chất có trong dầu oliu thì dùng loại dầu này cho bữa ăn là khá lý tưởng. Chủ yếu của dầu oliu là chất béo không bão hòa đơn, cấu tạo phân tử thiếu bền vững nên rất nhạy với nhiệt độ cao.

Vì thế, lý tưởng nhất khi chúng ta dùng dầu oliu là rưới trực tiếp sau khi thức ăn được nấu chín hoặc trộn salad. Tôi ví dụ, để xào rau lang với tỏi. Tôi cho tỏi vào rang sơ để dậy mùi, sau đó cho rau + một chút nước + gia vị + xào chín, tắt bếp trộn dầu oliu.

Mặc dù không được khuyến khích dùng dầu oliu để xào hay chiên như dầu dừa nhưng bạn có thể xào nấu nhiệt độ cao bằng dầu oliu như thông thường mà không sản sinh chất độc như nhiều loại dầu khác nhưng các chất dinh dưỡng trong dầu oliu cũng sẽ mất đi đáng kể.

Dầu oliu là loại đỏng đảnh nên bạn cần bảo quản tốt khi sử dụng, dầu nên để nơi mát mẻ, tránh ánh sáng trực tiếp, hoặc trong ngăn mát tủ lạnh. Vì lý do dễ bị thay đổi ánh sáng và nhiệt độ nên dầu được nhà sản xuất đựng trong chai sậm màu.

Lượng ăn: Tiêu thụ 1-2 muỗng canh dầu ô liu mỗi ngày là một cách lành mạnh cho sức khỏe.

Nhận định về một số loại dầu ăn

1. Dầu mè (dầu vừng)

Đối với chất béo, dầu mè có tỷ lệ xấp xỉ bằng nhau giữa chất béo không bão hòa đơn và chất béo bão hòa đa, tổng cộng 80% hàm lượng chất béo. Hàm lượng dầu còn lại 20% chủ yếu là chất béo bão hòa. Hàm lượng chất béo bão hòa đơn cao có lợi cho sức khỏe của bạn và đặc biệt tốt trong việc giảm cholesterol.

Dầu mè chứa số lượng vitamin và khoáng chất không đáng kể. Chất dinh dưỡng thiết yếu duy nhất có hàm lượng đáng kể trong dầu mè là vitamin K. Vitamin K rất cần thiết cho sức khỏe của xương.

Dầu mè là một loại dầu ăn phổ biến có thêm hương vị phong phú, bổ dưỡng cho nhiều món ăn. Nếu được sử dụng đúng cách và vừa phải chứ không liên tục thì loại dầu này có thể mang lại một số lợi ích cho sức khỏe.

Không nên dùng liên tục vì có chứa lượng lớn omega-6 mà bữa ăn của chúng ta thường đã nhiều omega-6 mà thiếu omega-3. Ngoài ra, dầu mè cũng chứa khá nhiều calo, ăn dầu mè thường xuyên quá nhiều có thể gây tăng cân.

Điểm khói của dầu mè nguyên chất ép lạnh không thấp, khoảng 177 độ C, nhưng cấu tạo bởi phần lớn axit béo không bão hòa nên dễ vỡ khi gia nhiệt. Vì thế, dầu mè chỉ nên dùng để xào nấu những món có nhiệt độ thấp, tránh tình trạng mất dinh dưỡng và gây độc.

Điểm khói của dầu mè ngang với dầu dừa nhưng dầu dừa ít sinh độc tố hơn cả nên chiên rán, áp chảo bạn nên chọn dầu dừa như hướng dẫn bên trên. Tốt nhất cũng vẫn là dùng dầu mè trực tiếp như cách dùng dầu oliu để giữ nguyên dưỡng chất.

Lưu ý: Nếu bạn bị dị ứng với hạt mè, KHÔNG sử dụng hoặc sử dụng loại dầu này vì nó có thể dẫn đến các phản ứng dị ứng. Tôi cũng khuyên phụ nữ mang thai hoặc cho con bú cẩn thận khi tiêu thụ hạt mè và dầu mè vì nó có thể gây tác dụng kích thích tố, gây ra các cơn co thắt tử cung không tốt cho thai nhi.

2. Dầu hướng dương

Trong những năm gần đây, dầu hướng dương đã trở thành một chất béo rất phổ biến. Xu hướng này để đáp ứng với nhận thức của người tiêu dùng ngày càng tăng về sự nguy hiểm của các loại dầu không bão hòa khác như đậu nành, ngô và cải dầu thường có nguồn gốc biến đổi gen.

Tỷ lệ chất béo trong dầu hướng dương:

Chất béo bão hòa (như axit Palmitic và Stearic): 11%
Chất béo không bão hòa đơn hoặc omega-9 (như axit Oleic): 30%
Chất béo không bão hòa đa hoặc omega-6 PUFA (như axit linoleic): 59%
Điểm khói dầu hướng dương ép lạnh khoảng 107 độ.

Dầu hạt hướng dương chứa đa dạng các chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Loại dầu này giàu vitamin E, B1, B5, B6 và C ngoài các khoáng chất như đồng, phốt pho, kẽm và magiê. Folate, kali, canxi, riboflavin, sắt và niacin được tìm thấy trong dầu hạt hướng dương.

Dầu hướng dương cũng rất giàu chất béo omega-6 nhưng thiếu omega-3 nên không tốt để sử dụng lâu dài vì nó sẽ mất cân bằng tỷ lệ rất quan trọng của chất béo omega-6 / omega-3 trong chế độ ăn uống. Quá nhiều omega-6 và quá ít omega-3 là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật trong xã hội hiện đại. Vì thế, tôi chọn dầu hướng dương là loại dầu ăn để thi thoảng thay đổi chứ không ăn nó hàng ngày.

Khi dầu hướng dương ép lạnh được đun ở nhiệt độ cao, nó có thể giải phóng hàm lượng lớn chất độc hại được gọi là aldehyde, một chất có liên quan tới bệnh ung thư, bệnh tim và chứng mất trí nhớ. Dầu hướng dương so với các loại dầu thực vật khác, sản sinh chất độc cao đột biến khi nấu nướng ở nhiệt độ cao. Vì thế, hãy chỉ dùng dầu hướng dương để trộn salad hay dùng dầu hướng trực tiếp để bảo vệ sức khỏe.

3. Dầu ngô

Tương tự như dầu hướng dương, dầu ngô chứa nhiều chất béo không bão hòa tốt cho sức khỏe, tuy nhiên hàm lượng omega-6 lại quá lớn, nên không phù hợp để sử dụng thường xuyên. Điểm khói khoảng 160 độ C không phải là thấp nhưng cũng giống như dầu hướng dương không phù hợp để chiên rán bởi vì dầu ngô cũng sản sinh một lượng chất độc cực lớn khi gia nhiệt.

4. Dầu bơ

Thành phần của dầu quả bơ cũng tương tự như dầu ô liu. Nó chủ yếu là chất béo không bão hòa đơn, với một số chất béo bão hòa và không bão hòa đa. Điểm bốc khói của dầu bơ thuộc loại cao, hơn cả dầu dừa rất nhiều, khoảng 270 độ C nên rất phù hợp để chiên rán, nướng và cả xào, rưới ăn trực tiếp.

Tuy nhiên, giá thành dầu bơ thường khá cao bởi cần một lượng lớn quả bơ để cho ra một lượng nhỏ dầu. Hương vị của dầu bơ rất dễ chịu, tôi cảm thấy phù hợp để thêm vào các món súp, các món nướng, xào, dầu bơ thật sự rất phù hợp để chiên rán nhiệt độ cao nhưng vì vấn đề giá thành nên tôi ưu tiên chọn dầu dừa để chiên rán hơn.

CÒN TIẾP….

(Hạ Mến)

Để lại bình luận

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho