Môi trường thực phẩm có phải nguyên nhân gây ra đại dịch béo phì?

Tóm tắt sơ lược

Một số lời giải thích giả định về đại dịch béo phì có liên quan đến việc thay đổi môi trường thực phẩm. Các chất dinh dưỡng đa lượng đơn lẻ từng được lý thuyết hóa là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh béo phì ở dân số, nhưng những lời giải thích này có vẻ không khả thi. Thay vào đó, bệnh béo phì có thể là kết quả của những thay đổi trong số lượng calochất lượng nguồn cung thực phẩm kết hợp với hệ thống thực phẩm bị công nghiệp hóa mà tạo ra và tiếp thị các loại thực phẩm tinh chế cao tiện lợi từ nguyên liệu đầu vào nông nghiệp rẻ.

Những loại thực phẩm như vậy thường chứa hàm lượng chất phụ gia muối, đường, chất béo, và hương vị lớn và được thiết kế để mang các đặc tính ngon miệng bất thường làm tăng việc tiêu thụ. Khả năng tiếp cận phổ biến và rộng khắp đối với thực phẩm tiện lợi và có giá thành rẻ cũng thay đổi hành vi ăn uống thông thường, với nhiều người ăn vặt, ăn hàng, và dành ít thời gian để chế biến/nấu nướng các bữa ăn tại nhà hơn.

Mặc dù những sự đổi thay này trong môi trường thực phẩm cung cấp một lời giải thích tiềm năng về đại dịch béo phì, nhưng việc chứng minh trên cơ sở khoa học chắc chắn/dứt khoát lại đang bị gây trở ngại bởi những khó khăn trong việc tách biệt và chi phối/điều khiển bằng thí nghiệm các biến số quan trọng ở cấp độ dân số.

Read moreMôi trường thực phẩm có phải nguyên nhân gây ra đại dịch béo phì?

Kỳ thị người béo phì: Những lưu ý quan trọng đối với y tế công cộng

1. Tóm tắt sơ lược

Tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với những người béo phì là hết sức phổ biến và gây ra vô số hậu quả với cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của những cá nhân này. Mặc dù khoa học đã ghi nhận sự kỳ thị đối với cân nặng nhiều thập kỷ qua, nhưng những ý nghĩa sức khỏe công cộng của nó vẫn chưa nhận được sự quan tâm chú ý đúng mực. Thay vào đó, những người béo phì lại bị đổ lỗi, chê trách vì cân nặng của họ, với những quan niệm phổ biến cho rằng kỳ thị cân nặng là một việc chính đáng và có thể thúc đẩy các cá nhân áp dụng những hành vi lành mạnh hơn. Chúng tôi xem xét các bằng chứng để giải quyết những giả định này và thảo luận về các ý nghĩa y tế công cộng của chúng. Trên cơ sở của những phát hiện hiện tại, chúng tôi cho rằng sự kỳ thị cân nặng không phải một công cụ y tế công cộng để giảm béo phì có lợi. Thay vào đó, việc kỳ thị những cá nhân bị béo phì lại đe dọa sức khỏe, tạo ra sự chênh lệch về sức khỏe, và gây trở ngại cho những nỗ lực can thiệp bệnh béo phì hiệu quả. Các phát hiện này không chỉ nhấn mạnh sự kỳ thị cân nặng như một vấn đề công bằng xã hội mà còn như một ưu tiên đối với lĩnh vực y tế công cộng.

Read moreKỳ thị người béo phì: Những lưu ý quan trọng đối với y tế công cộng

Chia sẻ thực phẩm ở loài dơi quỷ: sự giúp đỡ lẫn nhau dự đoán hành động cho tặng nhiều hơn là mối liên quan hoặc sự quấy nhiễu

Tóm tắt sơ lược

Dơi quỷ thông thường (common vampire) thường thổ/nôn thức ăn ra cho những con dơi cùng bầy/hang không thể kiếm ăn. Lời giải thích ban đầu cho hành vi giúp đỡ quý giá này đã dẫn chứng đến các lợi ích thích đáng cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Kể từ đó đã có một số tác giả cho rằng việc chia sẻ thực phẩm được duy trì chủ yếu bởi sự thích hợp gián tiếp vì việc chia sẻ giữa những con dơi không thân thích với nhau có thể bắt nguồn từ các lỗi nhận dạng họ hàng/dòng dõi, lòng vị tha không phân biệt/bừa bãi trong các nhóm, hoặc sự quấy nhiễu.

Để kiểm tra những phương án này, chúng tôi đã thử nghiệm các yếu tố dự đoán của quyết định chia sẻ thực phẩm dưới các điều kiện được kiểm soát giữa mối quan hệ lẫn lộn và mức độ quen thuộc/thân mật tương đương. Trong thời gian 2 năm, chúng tôi đã cho 20 con dơi quỷ (Desmodus rotundus) nhịn ăn và để chúng chia sẻ thức ăn trong 48 ngày.

Thật đáng ngạc nhiên, những con dơi cho tặng bắt đầu việc chia sẻ thức ăn thường xuyên hơn là những con dơi tiếp nhận, điều này mâu thuẫn với phương án quấy nhiễu/quấy rối. Thực phẩm được nhận là yếu tố dự đoán tốt nhất của thực phẩm được cho đi trong các cặp dơi, và quan trọng hơn mối quan hệ/sự liên quan đến 8,5 lần. 64% các cặp dơi chia sẻ đều không liên quan đến nhau (không có họ hàng – BT), và sẽ lên đến 67% nếu không có chế độ gia đình trị (nepotism).

Phù hợp với liên kết xã hội, mạng lưới chia sẻ thức ăn cũng nhất quán và tương quan với việc vệ sinh lông cho nhau. Cùng với các nghiên cứu trong tương lai, những phát hiện này hỗ trợ giả thuyết cho rằng hoạt động chia sẻ thức ăn ở dơi quỷ cung cấp lợi ích thích đáng trực tiếp chung, và không thể được giải thích đơn thuần chỉ bởi sự lựa chọn họ hàng hoặc sự quấy rối.

Read moreChia sẻ thực phẩm ở loài dơi quỷ: sự giúp đỡ lẫn nhau dự đoán hành động cho tặng nhiều hơn là mối liên quan hoặc sự quấy nhiễu

Các yếu tố tâm lý quyết định việc ăn uống theo cảm xúc ở tuổi vị thành niên

Tóm tắt sơ lược

Ăn uống theo cảm xúc (emotional eating) được khái niệm hóa như là ăn uống để phản ứng lại tác động tiêu cực. Dữ liệu từ một nghiên cứu có quy mô lớn hơn về hoạt động thể chất đã được áp dụng để xem xét các mối liên hệ giữa xúc cảm/tâm trạng và việc ăn uống theo cảm xúc ở một mẫu tuổi vị thành niên/thanh thiếu niên.

666 học sinh với gốc gác/xuất thân khác nhau từ 7 trường trung học cơ sở tại Los Angeles đã tham gia vào nghiên cứu. Phân tích cắt ngang (cross-sectional analysis) cho thấy không có sự khác biệt về giới tính trong hoạt động ăn uống theo cảm xúc, và chỉ ra rằng sự căng thẳng, phiền muộn được nhận thức (perceived stress and worries) có liên quan đến hoạt động ăn uống theo cảm xúc trong toàn bộ mẫu.

Các phân tích phân tầng giới (gender stratified analyses) đã tiết lộ những mối liên kết đáng kể giữa sự căng thẳng, cảm giác phiền muộn và sự bất an được nhận thức với việc ăn uống theo cảm xúc ở trẻ vị thành niên nữ, trong khi ở trẻ vị thành niên nam thì việc này chỉ liên quan đến tâm trạng hoang mang, rối bời (confused mood).

Những phát hiện này mang nhiều ý nghĩa tiềm năng đối với việc điều trị và ngăn chặn bệnh béo phì ở trẻ em cùng với các hội chứng rối loạn ăn uống vì chúng cho rằng những biện pháp can thiệp sẽ được hưởng lợi từ việc kết hợp các kĩ thuật giảm căng thẳng và thúc đẩy tâm trạng tích cực.

Read moreCác yếu tố tâm lý quyết định việc ăn uống theo cảm xúc ở tuổi vị thành niên

Bối cảnh văn hóa và xã hội của sử dụng rượu: Những tác động trong khuôn khổ sinh thái-xã hội

Tóm tắt

Sử dụng và lạm dụng rượu chiếm 3,3 triệu ca tử vong hàng năm hay 6% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới. Tác hại của lạm dụng rượu sâu rộng và có phạm vi từ các nguy cơ sức khỏe cá nhân, tỉ lệ bệnh tật và tử vong cho đến các hệ lụy đối với gia đình, bạn bè, và xã hội ở quy mô lớn hơn.

Bài viết này đánh giá một vài ảnh hưởng văn hóa và xã hội đến việc sử dụng rượu và đặt sử dụng rượu cá nhân vào trong các bối cảnh và môi trường con người sinh sống và tương tác.

Bài viết bao gồm phần bàn luận về các yếu tố cấp độ vĩ mô như là quảng cáo và tiếp thị, các yếu tố nhập cư và phân biệt đối xử, cùng với cách khu dân cư hàng xóm, gia đình và những người đồng đẳng ảnh hưởng đến sử dụng/lạm dụng rượu. Cụ thể, bài viết mô tả bối cảnh xã hội và văn hóa ảnh hưởng đến việc sử dụng / lạm dụng rượu và sau đó khám phá các hướng tương lai nghiên cứu về rượu.

Read moreBối cảnh văn hóa và xã hội của sử dụng rượu: Những tác động trong khuôn khổ sinh thái-xã hội

Ảnh hưởng của thái độ cha mẹ đối với sự phát triển hành vi ăn uống của con trẻ

Tóm tắt sơ lược

Bài báo này là một bài đánh giá những dữ liệu có sẵn về ảnh hưởng của thái độ và phong cách cho ăn/nuôi dưỡng của cha mẹ đối với hành vi dinh dưỡng của trẻ. Sở thích thực phẩm phát triển từ những khuynh hướng được xác định về mặt di truyền để thích các vị ngọt và mặn và ghét bỏ/không ưa vị đắng và chua. Có bằng chứng cho thấy sự tồn tại của một số cơ chế tự động bẩm sinh điều chỉnh khẩu vị/cảm giác thèm ăn.

Read moreẢnh hưởng của thái độ cha mẹ đối với sự phát triển hành vi ăn uống của con trẻ

Không chỉ đơn thuần là bữa trưa: Việc dùng bữa với người khác có thể gây ghen tuông

Tóm tắt sơ lược

Mọi người có tin rằng chia sẻ thực phẩm có thể liên quan đến việc chia sẻ nhiều thứ hơn chỉ là thực phẩm thôi không? Để làm rõ vấn đề này, những người tham gia nghiên cứu được yêu cầu đánh giá mức độ ghen tuông của họ (Nghiên cứu 1) – hoặc của bạn thân họ (Nghiên cứu 2) – khi người yêu hiện tại của họ được tình cũ liên lạc và sau đó là tham gia vào một loạt hoạt động liên quan đến đồ ăn thức uống.

Chúng tôi đã phát hiện thấy một cách thống nhất – ở cả nam giới và nữ giới – rằng sự ghen tuông được khơi gợi từ các bữa ăn nhiều hơn là từ những sự tương tác mặt đối mặt/trực diện mà không liên quan đến việc ăn, chẳng hạn như uống cà phê. Những phát hiện này chỉ ra là mọi người thường cho rằng việc dùng chung một bữa ăn góp phần đẩy mạnh sự hợp tác.

Trong bối cảnh của các cặp đôi yêu nhau/các cặp tình nhân, chúng tôi nhận thấy là những người tham gia có thể gặp rủi ro liên quan đến mối quan hệ mà việc dùng bữa với người khác ngoài cặp (mà không phải người yêu) đem lại. Ví dụ, với những người bạn trai/chồng, bạn gái/vợ không được cùng dùng bữa với nửa kia của mình, chúng tôi thấy xuất hiện một quan điểm phổ biến cho rằng bữa trưa không chỉ đơn thuần là “bữa trưa.”

Read moreKhông chỉ đơn thuần là bữa trưa: Việc dùng bữa với người khác có thể gây ghen tuông