Ăn canh móng giò: tổng hợp tài liệu (định tính theo chủ đề) về thông lệ và tín ngưỡng văn hóa ảnh hưởng đến dinh dưỡng trong chu kỳ sinh ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thu nhập thấp 

Tóm tắt

Bối cảnh

Giai đoạn chu kỳ sinh, tức mang thai, sinh con và sau sinh, là một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng khi mặt sinh học giao thoa rõ ràng với phương diện xã hội. 

Ở những quốc gia có thu nhập trung bình và thu nhập thấp, vẫn còn nhiều gánh nặng bệnh tật phát sinh từ trong giai đoạn chu kỳ sinh. 

Giai đoạn chu kỳ sinh cũng là cánh cửa cơ hội thiết yếu để giảm tình trạng kém dinh dưỡng và các tác hại lâu dài của nó.

Read more

Thực phẩm cho tình yêu: vai trò của việc cung cấp thực phẩm trong điều tiết cảm xúc đồng cảm

Tóm tắt sơ lược

Bài viết này nghiên cứu những tiền đề giữa các cá nhân (interpersonal) và trong nội tâm (intrapersonal) của một người cùng với các hệ quả của việc cung cấp thực phẩm (food offering). Cung cấp thực phẩm là một trong những tương tác điều chỉnh/điều tiết hành vi sinh học sớm nhất (ealiest biobehavioral regulatory) giữa cha mẹ và con cái. Nó đảm bảo sự sống của đứa trẻ mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác để có thể nhận được thực phẩm. Chất lượng của những tương tác ban đầu này ảnh hưởng đến cách mọi người phản ứng với các tình huống trong cuộc sống sau này, và việc cung cấp thực phẩm nói riêng có thể liên quan mật thiết đến sự điều tiết/điều chỉnh cảm xúc xuyên suốt cuộc đời. Trong khi các nghiên cứu đã xem xét nhiều dạng điều tiết cảm xúc khác, và việc tiêu thụ thực phẩm cũng đã được nghiên cứu từ quan điểm nội tâm/hướng nội (intrapersonal), nhưng chúng ta lại chưa biết gì nhiều về ảnh hưởng giữa các cá nhân/liên cá nhân (interpersonal) của việc cung cấp thực phẩm. Sau khi xem xét tài liệu từ một loạt các ngành kiến thức, chúng tôi cho rằng cơ chế ẩn sau những ảnh hưởng này chính là sự điều tiết cảm xúc đồng cảm (Empathic Emotion Regulation / EER). Chúng tôi khái niệm hóa EER như một hệ thống điều tiết/điều chỉnh giữa các cá nhân mà trong đó phản ứng đồng cảm với trạng thái cảm xúc của người khác có thể sẽ điều chỉnh cả cảm xúc của người cung cấp và giữa các đối tượng/đối tác tương tác khác. Chúng tôi đề xuất rằng việc cung cấp thực phẩm bởi một người cung cấp đồng cảm được thúc đẩy bởi trạng thái cảm xúc của đối tượng tương tác (người nhận). Thông qua việc cung cấp thực phẩm, người cung cấp không chỉ nhắm đến việc giảm bớt tác động tiêu cực của người nhận mà còn của chính họ nữa. Do đó, việc cung cấp thực phẩm trở thành một công cụ giúp làm tăng tác động tích cực với cả người nhận và – khi sự cung cấp đạt được hiệu quả mong muốn – người cung cấp. Sau đó, chúng tôi đưa ra ý kiến rằng việc chia sẻ các nguồn thực phẩm cũng như sử dụng thực phẩm như một hành vi hỗ trợ sẽ làm tăng sự gần gũi giữa các cá nhân (interpersonal closeness). Cuối cùng, chúng tôi trình bày quá trình cung cấp thực phẩm trong một quan điểm phát triển. Nếu thành công về mặt điều chỉnh của việc cung cấp thực phẩm trở thành một sự thay thế cho các hành vi hỗ trợ khác, thì trẻ em từ rất sớm đã học được cách sử dụng thực phẩm như một phương tiện chính yếu để xoa dịu bản thân cùng với những người khác, từ đó có thể dẫn đến rối loạn ăn uống (eating disorders) và một phạm vi hành vi đối phó bị hạn chế.

Read more

Hướng tới một triết lý dinh dưỡng phòng ngừa mới: Từ cách tiếp cận giản hóa luận đến một mô hình toàn diện nhằm cải thiện các khuyến nghị dinh dưỡng

Tóm tắt sơ lược

Tính đến nay, cách tiếp cận giản hóa luận (reductionist approach) vẫn chiếm ưu thế và vượt trội hơn hẳn trong các nghiên cứu dinh dưỡng ở người, và nó đã làm sáng tỏ một số cơ chế cơ bản trên cơ sở dưỡng chất thực phẩm (ví dụ, những chất dinh dưỡng liên quan đến các bệnh phát sinh từ sự thiếu hụt). Ở các quốc gia phương Tây, cùng với sự tiến bộ trong y học và dược học, cách tiếp cận giản hóa luận đã giúp làm tăng tuổi thọ trung bình (life expectancy). Tuy nhiên, mặc dù đã trải qua 40 năm nghiên cứu về dinh dưỡng, nhưng hàng năm thì hai đại dịch béo phì và tiểu đường vẫn không ngừng gia tăng trên toàn thế giới, không chỉ tại những quốc gia phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, dẫn đến sự sụt giảm của những năm sống khỏe mạnh (healthy life years). Song, tương tác giữa các mối quan hệ dinh dưỡng-sức khỏe không thể được mô hình hóa trên cơ sở của một mối quan hệ nhân quả tuyến tính giữa một hợp chất thực phẩm và một ảnh hưởng/tác động sinh lý, mà thay vào đó là từ các mối quan hệ phi tuyến tính đa/nhiều nguyên nhân (multicausal nonlinear relations). Nói cách khác, việc giải thích “cái toàn bộ” từ “những cái cụ thể” bằng phương pháp tiếp cận giản hóa luận từ dưới lên (bottom-up) vẫn có những hạn chế của nó. Từ đó, một cách tiếp cận từ trên xuống (top-down) trở nên cần thiết đối với việc nghiên cứu những vấn đề phức tạp hơn thông qua một cách nhìn/quan điểm toàn cục trước khi giải quyết bất cứ câu hỏi cụ thể nào để giải thích vấn đề tổng thể/toàn bộ. Tuy nhiên, có vẻ như cả hai cách tiếp cận đều cần thiết, không những vậy còn củng cố lẫn nhau. Trong bài đánh giá này tổng quan này, các khía cạnh nghiên cứu của phương Đông và phương Tây sẽ được trình bày lần đầu tiên, đặt ra nền tảng cho thứ có thể là hệ quả của việc áp dụng cách tiếp cận giản hóa luận so với cách tiếp cận toàn diện để nghiên cứu dinh dưỡng trong mối quan hệ với sức khỏe công cộng/cộng đồng, tính bền vững môi trường, gây giống/chăn nuôi, đa dạng sinh học, khoa học và xử lý/chế biến thực phẩm, cũng như sinh lý học đối với việc cải thiện các khuyến nghị dinh dưỡng. Do đó, nghiên cứu thay thế cách tiếp cận giản hóa luận bằng một cách tiếp cận toàn diện hơn (holistic approach) sẽ chỉ ra các biện pháp chung/tổng quát và hiệu quả đối với các vấn đề mà sẽ xuất hiện từ khâu trồng trọt chăn nuôi cho đến khâu tiêu thụ. Dinh dưỡng phòng ngừa (preventive nutrition) của con người không thể được coi là “dược học” và thực phẩm cũng không nên được nhìn nhận là “thuốc” nữa.

Read more

Các chiến lược nuôi dưỡng trẻ của cha mẹ và mối quan hệ của chúng đối với hoạt động ăn uống cũng như tình trạng cân nặng của trẻ

Tóm tắt sơ lược

Phong cách cho con ăn/nuôi dưỡng con của cha mẹ (parental feeding styles) có thể thúc đẩy tình trạng ăn nhiều quá mức (overeating) hoặc thừa cân (overweight) ở trẻ. Một đánh giá tài liệu toàn diện đã được thực hiện để tóm tắt các mối liên kết giữa phong cách nuôi dưỡng trẻ/cho trẻ ăn của các bậc cha mẹ với hoạt động ăn uống cũng như tình trạng cân nặng của các em. Có 22 nghiên cứu đã được xác định.

Chúng tôi đã mã hóa một cách có hệ thống các thuộc tính và kết quả của nghiên cứu, đồng thời kiểm nghiệm mô hình liên kết. Trong số này có đến 19 nghiên cứu (86%) báo cáo ít nhất một mối liên hệ đáng chú ý giữa phong cách nuôi dưỡng của cha mẹ với hệ quả của trẻ, mặc dù phương pháp nghiên cứu và kết quả đã thay đổi đáng kể.

Các nghiên cứu tập trung vào phong cách nuôi dưỡng hạn chế (feeding restriction), đối lập với việc kiểm soát nuôi dưỡng nói chung (general feeding control) hoặc lĩnh vực nuôi dưỡng khác, có nhiều khả năng báo cáo những mối liên hệ tích cực/dương tính với hoạt động ăn uống cũng như tình trạng cân nặng của trẻ hơn.

Các mối liên kết/mối quan hệ nhất định khác nhau theo giới tính và theo biện pháp đo lường kết quả (ví dụ, tỷ lệ ăn uống trái ngược với tổng lượng năng lượng tiêu thụ). Phong cách nuôi dưỡng hạn chế của cha mẹ, chứ không phải các lĩnh vực nuôi dưỡng khác, có liên quan đến sự gia tăng trong việc ăn uống và tình trạng cân nặng của trẻ em. Cần tiến hành các nghiên cứu theo thời gian/nghiên cứu dài hạn/nghiên cứu trường kỳ (longitudinal study) để kiểm tra các quá trình nhân quả/nguyên nhân tiềm ẩn, bao gồm các mô hình nguyên nhân lưỡng hướng/hai chiều, và để chứng thực những phát hiện trong sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh béo phì khác.

Read more

Cấy ghép tế bào gốc trong điều trị ung thư

Trong cấy ghép tế bào gốc, người bệnh sẽ được tiêm các tế bào gốc hình thành máu khỏe mạnh vào tĩnh mạch. Một khi chúng xâm nhập vào máu, các tế bào gốc di chuyển đến tủy xương, nơi chúng chiếm chỗ của những tế bào bị tiêu diệt bởi quá trình điều trị. Các tế bào gốc tạo máu được dùng trong quá trình cấy ghép có thể đến từ tủy xương, dòng máu, hoặc dây rốn. Cấy ghép có thể là:

Read more

Liệu pháp nhắm mục tiêu trong điều trị ung thư

Liệu pháp nhắm mục tiêu là gì?

Liệu pháp nhắm mục tiêu là nền tảng của y học chính xác. Đây là một kiểu điều trị ung thư nhắm vào những thay đổi trong các tế bào ung thư mà giúp chúng phát triển, phân chia, và lan rộng. Khi các nhà nghiên cứu tìm hiểu kĩ hơn về những thay đổi tế bào thúc đẩy ung thư, họ có thể dễ dàng thiết kế các liệu pháp hứa hẹn hơn nhắm đến những sự đổi thay này hoặc ngăn chặn ảnh hưởng của chúng.

Read more

Tình trạng cân nặng của cha mẹ, việc xem TV, ăn vặt, và chỉ số khối cơ thể của các bé gái

Tóm tắt sơ lược

Mục tiêu

Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm nghiệm xem việc xem TV có cung cấp bối cảnh cho các mô hình ăn vặt thúc đẩy tình trạng thừa cân ở những bé gái đến từ các gia đình bị thừa cân hoặc không bị thừa cân hay không.

Phương pháp và quy trình/thủ tục nghiên cứu

Các đối tượng tham gia bao gồm 173 bé gái da trắng không có gốc Tây Ban Nha (non-Hispanic white girls) và cha mẹ của các em từ vùng trung tâm Pennsylvania, được đánh giá theo thời gian/theo chiều dọc (longitudinally) khi các bé gái được 5, 7, và 9 tuổi. Phân tích đường dẫn (path analysis) được áp dụng để kiểm tra các mô hình mối quan hệ giữa việc xem TV, ăn vặt trong khi xem TV, tần suất ăn vặt, lượng chất béo tiêu thụ từ các món ăn vặt giàu năng lượng, và sự gia tăng chỉ số khối cơ thể (BMI) của các em từ 5-9 tuổi.

Read more